Bộ não tự thay đổi chính nó (chương 9.1) - Phân tâm học là một liệu pháp khả biến thần kinh

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-9-1-phan-tam-hoc-la-mot-lieu-phap-kha-bien-than-kinh

Tâm lý trị liệu hoạt động bằng cách đi sâu vào não bộ và tế bào thần kinh của nó và thay đổi cấu trúc của chúng bằng cách bật các gen phù hợp

Chương 9

Phân tâm học là một liệu pháp khả biến thần kinh

Anh L. đã bị trầm cảm tái phát trong hơn 40 năm và gặp khó khăn trong mối quan hệ với phụ nữ. Khi anh ấy tìm sự trợ giúp từ tôi, anh đang ở độ tuổi cuối năm mươi và gần đây mới nghỉ hưu.

Vào đầu những năm 1990, rất ít bác sĩ tâm thần vào thời đó hiểu được bộ não có tính dẻo, và người ta thường tin rằng những người gần sáu mươi tuổi thì “có thói quen quá cứng nhắc" để hưởng lợi từ một liệu pháp nhằm không chỉ giải thoát họ khỏi các triệu chứng mà còn thay đổi những khía cạnh trong tính cách của họ một cách dài lâu.   

Anh L. là người luôn luôn khách sáo và lịch sự. Anh ấy thông minh, tinh tế, và nói một cách ngắn gọn, sơ sài, không có nhiều cảm xúc trong giọng nói của anh ta. Anh ngày càng trở nên cách biệt khi nói về cảm xúc của mình.

Ngoài những cơn trầm cảm nặng, vốn chỉ đáp ứng phần nào với thuốc chống trầm cảm, anh còn có một kiểu tâm trạng kỳ lạ thứ hai. Anh thường bị tấn công bởi một cảm giác bí ẩn - dường như không biết từ đâu đến - của sự tê liệt, chết lặng và vô mục đích, như thể thời gian đã ngừng lại. Anh cũng cho biết là mình uống rượu rất nhiều.

Anh đặc biệt cảm thấy khó chịu về mối quan hệ của mình với phụ nữ. Ngay khi anh hẹn hò yêu đương, anh sẽ bắt đầu rút lui, với cảm giác rằng “có một phụ nữ tốt hơn ở nơi khác mà tôi đang bị từ chối.” 

Anh ta đã nhiều lần không chung thủy với vợ và hệ quả là cuộc hôn nhân tan vỡ, một kết quả mà anh thấy rất hối hận. Tệ hơn là anh ta không chắc tại sao mình lại thiếu chung thủy, vì anh rất tôn trọng vợ. Anh đã cố gắng nhiều lần để quay lại với cô, nhưng cô từ chối.

Anh ta không biết rõ tình yêu là gì, chưa bao giờ biết ghen hay có tâm lý sở hữu người khác, và lúc nào cũng cảm thấy phụ nữ muốn “sở hữu” anh. Anh tránh cả cam kết và xung đột với phụ nữ. Anh hết lòng vì con cái nhưng cảm thấy gắn bó với con vì ý thức trách nhiệm hơn là tình cảm vui vẻ. Cảm giác này làm anh đau lòng bởi lũ trẻ rất yêu thương cha

Khi Anh L. được hai mươi sáu tháng tuổi, mẹ anh qua đời khi sinh hạ em gái anh. Anh không tin rằng cái chết của bà đã ảnh hưởng nhiều đến mình. Anh có bảy anh chị em, và bây giờ người chu cấp duy nhất của họ là cha, một nông dân, người điều hành trang trại biệt lập mà họ sống không có điện nước, ở một quận nghèo trong cuộc Đại khủng hoảng. Một năm sau, Anh L. bị bệnh kinh niên về đường tiêu hóa cần được chú ý liên tục. Khi anh lên bốn tuổi, cha anh không thể chăm sóc cho cả anh và các anh chị anh, nên đã gửi anh đến sống cùng vợ chồng người dì đã lập gia đình nhưng không có con cách nhà một ngàn dặm. Trong hai năm, mọi thứ trong cuộc đời ngắn ngủi của Anh L. đã thay đổi. Anh ta đã mất mẹ, cha, anh chị em, sức khỏe, ngôi nhà, ngôi làng và tất cả những thứ quen thuộc — mọi thứ anh ta quan tâm và từng gắn bó. Và bởi vì anh ta lớn lên với những người đã quen cắn răng chịu khổ và tỏ ra mạnh mẽ, nên cả cha anh lẫn gia đình nhận nuôi anh không nói gì nhiều về những mất mát của anh với anh. 

Anh L. cho biết anh không có ký ức từ bốn tuổi trở về trước và rất ít ký ức về thời niên thiếu. Anh không cảm thấy buồn về những gì đã xảy ra với mình và không bao giờ khóc, ngay cả khi đã trưởng thành - về bất cứ điều gì. Thật vậy, anh ta nói như thể chẳng có chuyện gì xảy ra với anh. Tại sao tôi phải nhận ra? anh hỏi. Chẳng phải tâm trí của trẻ em còn chưa hình thành đầy đủ để ghi lại những sự kiện đầu đời? 

Tuy nhiên, có một số mang mối cho thấy những mất mát của anh đã biểu lộ. Khi anh kể lại câu chuyện đời mình, trông anh cứ như thể vẫn còn đang sốc sau ngần ấy năm. Anh cũng bị ám ảnh bởi những giấc mơ mà ở đó anh luôn tìm kiếm thứ gì đó. Như Freud đã phát hiện ra, những giấc mơ lặp đi lặp lại, với cấu trúc tương đối không thay đổi, thường chứa đựng những mảnh ký ức của sang chấn đầu đời.

Anh L. mô tả về một giấc mơ điển hình như sau:

Tôi đang tìm kiếm thứ gì đó, tôi không biết nó là gì, một vật thể không xác định, có thể là một món đồ chơi, nằm ngoài lãnh thổ quen thuộc...Tôi muốn nó trở lại một lần nữa.

Nhận xét duy nhất của anh là giấc mơ đại diện cho "một mất mát khủng khiếp". Nhưng điều đáng chú ý là anh đã không liên kết nó với sự mất mát của mẹ hoặc gia đình.

Nhờ hiểu được giấc mơ này, anh L. sẽ học cách yêu thương, thay đổi các khía cạnh quan trọng trong tính cách của mình và loại bỏ các triệu chứng đã tồn tại suốt 40 năm của mình, trong liệu pháp phân tâm) kéo dài từ độ tuổi 58 đến 62. Sự thay đổi này có thể xảy ra là bởi vì phân tâm học trên thực tế là một liệu pháp khả biến thần kinh.

Trong nhiều năm nay, cách chữa trị theo truyền thống từ nhiều phía cho rằng phân tâm học--phương pháp "chữa trị bằng cách nói chuyện," và những liệu pháp tâm lý khác không phải là những cách nghiêm túc để điều trị các triệu chứng tâm thần và các vấn đề về tính cách. Các phương pháp điều trị "Nghiêm trọng" đòi hỏi thuốc chứ không chỉ có mỗi “nói chuyện về những suy nghĩ và cảm xúc”, bởi không thể ảnh hưởng đến bộ não hoặc thay đổi tính cách-những thứ ngày càng được coi là sản phẩm của gen chúng ta.

Nghiên cứu của bác sĩ tâm thần và nhà nghiên cứu Eric Kandel là thứ đầu tiên lôi cuốn tôi trong lĩnh vực khả biến thần kinh khi tôi thuộc về Khoa Tâm thần học của Đại học Columbia, nơi ông dạy và có một sức ảnh hưởng lớn đến tất cả mọi người có mặt. Kandel là người đầu tiên chỉ ra rằng khi chúng ta học tập, các tế bào thần kinh cá nhân của chúng ta thay đổi cấu trúc của chúng và và tăng cường các kết nối khớp thần kinh giữa chúng. Ông cũng là người đầu tiên chứng minh rằng khi chúng ta hình thành ký ức dài hạn, các nơ-ron thay đổi hình dạng giải phẫu và tăng số lượng các kết nối synap mà chúng có với các nơ-ron khác—công trình mà ông đã giành giải thưởng Nobel năm 2000.

Eric Kandel

Kandel trở thành bác sĩ và bác sĩ tâm thần, với hy vọng được thực hành phân tâm học. Nhưng nhiều người bạn (là nhà phân tâm học) đã khuyên ông nghiên cứu về não bộ, việc học và trí nhớ, những thứ mà người ta ít biết đến, để hiểu sâu hơn về lý do tại sao trị liệu tâm lý lại có hiệu quả và làm sao cải thiện nó. Sau một số khám phá ban đầu, Kandel quyết định trở thành một nhà khoa học thí nghiệm toàn thời gian, nhưng ông chưa bao giờ đánh mất hứng thú trong việc tìm hiểu cách tâm trí và bộ não thay đổi trong phân tâm học. 

Ông bắt đầu nghiên cứu một con ốc biển khổng lồ, được gọi là Aplysia, chúng có những tế bào thần kinh lớn bất thườngcác tế bào của nó rộng một milimet và có thể nhìn thấy bằng mắt thường— có thể cho ta một cánh cửa đi vào thế giới của những chức năng của mô thần kinh ở con người. Sự tiến hóa có tính bảo thủ, và các hình thức học tập cơ bản hoạt động theo cùng một cách cả ở động vật có hệ thần kinh đơn giản và ở người.

Hy vọng của Kandel là "bẫy" một phản ứng học hỏi ở nhóm tế bào thần kinh nhỏ nhất mà ông có thể tìm thấy, và nghiên cứu nó. Ông ta tìm thấy một mạch đơn giản trong con ốc, mà ông có thể loại bỏ một phần khỏi con vật bằng cách mổ xẻ và giữ cho nó còn sống và còn nguyên vẹn trong nước biển. Bằng cách này, ông ta có thể nghiên cứu nó, trong khi nó còn sống và trong khi nó học.

Hệ thần kinh đơn giản của ốc biển có các tế bào cảm giác phát hiện nguy hiểm và gửi tín hiệu đến các tế bào thần kinh vận động của nó, hoạt động theo phản xạ để bảo vệ nó. Ốc sên biển thở bằng mang của chúng, được bao phủ bởi một mô thịt gọi là siphon. Nếu các tế bào thần kinh cảm giác trong siphon phát hiện ra một kích thích lạ hoặc nguy hiểm, chúng sẽ gửi một thông điệp tới sáu tế bào thần kinh vận động bắn điện, khiến các cơ xung quanh mang kéo cả siphon và mang trở lại an toàn vào ốc, nơi chúng được bảo vệ. Đây là mạch mà Kandel nghiên cứu bằng cách đặt các vi điện cực vào tế bào thần kinh.

Ông có thể chỉ ra rằng khi con ốc học cách tránh chấn động và thu mang của nó vào, hệ thống thần kinh của nó đã thay đổi, tăng cường các kết nối khớp thần kinh giữa các tế bào thần kinh cảm giác và vận động và phát ra các tín hiệu mạnh hơn được phát hiện bởi các vi điện cực. Đây là bằng chứng đầu tiên cho thấy việc học dẫn đến việc tăng cường khả biến (tính dẻo) thần kinh của các kết nối giữa các tế bào thần kinh.

Nếu ông ta lặp lại những cú sốc trong một thời gian ngắn, những con ốc trở nên "nhạy cảm", do đó chúng phát triển "nỗi sợ do học được" và xu hướng phản ứng thái quá ngay cả với những kích thích lành tính hơn, cũng như con người bị chứng rối loạn lo âu. Khi những con ốc sên phát triển ‘nỗi sợ do học được’, các tế bào thần kinh tiền synap giải phóng nhiều chất truyền tin hóa học vào khớp thần kinh, phát ra tín hiệu mạnh hơn. Sau đó, ông cho thấy những con ốc sên có thể được dạy để nhận ra một kích thích là vô hại. Khi siphon của ốc sên được chạm nhẹ nhàng lặp đi lặp lại và không bị sốc, các khớp thần kinh dẫn đến phản xạ thu mang đã yếu đi và cuối cùng con ốc đã bỏ qua cú chạm. Cuối cùng, Kandel đã có thể chỉ ra rằng ốc sên cũng có thể học cách liên kết hai sự kiện khác nhau và hệ thống thần kinh của chúng thay đổi trong quá trình này. Khi ông ta gây cú sốc ở đuôi ốc, rồi ngay lập tức sau đó ông cho ốc sên một kích thích lành tính, chẳng mấy chốc tế bào thần kinh cảm giác của ốc sên đã phản ứng lại với kích thích lành tính như thể nó là kích thích nguy hiểm, phát ra tín hiệu rất mạnh- ngay cả khi không bị sốc.

Kandel, làm việc với Tom Carew, một nhà tâm lý học sinh lý, tiếp theo cho thấy những con ốc sên có thể phát triển cả những ký ức ngắn hạn và ký ức dài hạn. Trong một thí nghiệm, nhóm nghiên cứu đã huấn luyện một con ốc sên rút lại mang của nó sau khi họ chạm vào nó 10 lần. Những thay đổi trong tế bào thần kinh vẫn duy trì trong vài phúttương đương với trí nhớ ngắn hạn. Khi họ chạm vào mang mười lần, trong bốn buổi huấn luyện khác nhau, cách nhau vài giờ đến một ngày, sự thay đổi của các tế bào thần kinh kéo dài chừng ba tuần. Con vật đã phát triển những ký ức dài hạn nguyên thủy.

Kandel đã làm việc với đồng nghiệp của mình, nhà sinh vật học phân tử James Schwartz và các nhà di truyền học để hiểu rõ hơn về các phân tử riêng lẻ có liên quan đến việc hình thành ký ức dài hạn ở ốc sên. Họ đã chỉ ra rằng ở những con ốc, để những ký ức ngắn hạn trở thành dài hạn, một loại protein mới phải được tạo ra trong tế bào. Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng một trí nhớ ngắn hạn sẽ trở thành dài hạn khi một chất hóa học trong tế bào thần kinh, được gọi là protein kinase A, di chuyển từ cơ thể của tế bào thần kinh vào nhân của nó, nơi lưu trữ gen. Protein bật một gen để tạo ra 1 protein làm thay đổi cấu trúc của đầu mút thần kinh, để nó phát triển các kết nối mới giữa các tế bào thần kinh. Sau đó, Kandel, Carew và các đồng nghiệp Mary Chen và Craig Bailey đã chỉ ra rằng khi một tế bào thần kinh duy nhất phát triển trí nhớ dài hạn cho sự nhạy cảm, nó có thể đi từ 1.300 đến 2.700 kết nối synap, một lượng thay đổi khả biến thần kinh đáng kinh ngạc.

Quá trình tương tự cũng xảy ra ở con người. Khi chúng ta học, chúng ta làm thay đổi những gen nào đó trong tế bào thần kinh của chúng ta được "biểu hiện" hoặc được bật lên.

Gen của chúng ta có hai chức năng. Đầu tiên, "chức năng khuôn mẫu", cho phép các gen của chúng ta nhân bản, tạo ra các bản sao của chính chúng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chức năng khuôn mẫu nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.

Thứ hai là "chức năng sao chép”. Mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta chứa tất cả các gen của chúng ta, nhưng không phải tất cả các gen đó đều được bật hoặc biểu hiện. Khi một gen được bật, nó tạo ra một loại protein mới làm thay đổi cấu trúc và chức năng của tế bào. Đây được gọi là chức năng sao chép vì khi gen được bật, thông tin về cách tạo ra các protein này được "sao chép" hoặc đọc từ gen cá nhân. Chức năng sao chép này bị ảnh hưởng bởi những điều mà chúng ta nghĩ và làm.

Hầu hết mọi người cho rằng gen của chúng ta định hình chúng ta - hành vi và giải phẫu não của ta. Nhưng nghiên cứu của Kandel cho thấy khi chúng ta học hỏi thì tâm trí của ta cũng ảnh hưởng đến những gen nào đó trong các nơ-ron sẽ được sao chép. Do đó, chúng ta có thể định hướng các gen của mình, và đến lượt nó sẽ định hình giải phẫu vi mô cho bộ não của ta.

Kandel cho rằng khi trị liệu tâm lý làm thay đổi con người, "Người ta cho rằng nó làm được điều đó thông qua việc học, bằng cách tạo ra những thay đổi trong biểu hiện gen, làm thay đổi sức mạnh của các kết nối synap, và những thay đổi về cấu trúc sẽ làm thay đổi mô hình liên kết giải phẫu giữa các tế bào thần kinh của não bộ." Tâm lý trị liệu hoạt động bằng cách đi sâu vào não bộ và tế bào thần kinh của nó và thay đổi cấu trúc của chúng bằng cách bật các gen phù hợp. Bác sĩ tâm thần Susan Vaughan cho rằng phương pháp trị liệu bằng lời nói có hiệu quả bằng cách "nói chuyện với các tế bào thần kinh," và một nhà trị liệu tâm lý hoặc nhà phân tâm học giỏi là một "bác sĩ vi phẫu thuật của tâm trí" giúp bệnh nhân tạo ra những thay đổi cần thiết trong mạng lưới thần kinh của họ.

Những khám phá về học tập và trí nhớ ở cấp độ phân tử bắt nguồn từ chính quá khứ của Kandel.

Kandel sinh năm 1929 tại Vienna, một thành phố giàu có về văn hóa và trí tuệ. Nhưng Kandel là người Do Thái, và Áo tại thời điểm đó là một quốc gia kịch liệt chống Do Thái. Vào tháng 3 năm 1938, khi Hitler tiến quân vào Vienna, sáp nhập Áo vào Đức, ông ta được đám đông chào đón, tôn sùng, và tổng giám mục Công giáo Vienna đã ra lệnh cho tất cả các nhà thờ treo cờ Đức quốc xã. Ngày hôm sau, tất cả bạn cùng lớp của Kandel - ngoại trừ một cô gái, người Do Thái duy nhất khác trong lớp - đã ngừng nói chuyện với ông và bắt đầu bắt nạt ông ta.

Đến tháng Tư, tất cả trẻ em Do Thái đều bị đuổi khỏi trường. Vào ngày 9 tháng 11 năm 1928— Kristallnacht, "đêm thủy tinh" (ngụ ý là các cửa kính thủy tinh bị đập vỡ) khi Đức quốc xã phá hủy tất cả các giáo đường ở Reich Đức, bao gồm cả Áo - họ đã bắt cha của Kandel. Người Do Thái ở Áo bị đuổi ra khỏi nhà của họ, và 30 ngàn đàn ông Do Thái bị gửi đến các trại tập trung vào ngày hôm sau.

Kandel viết, "Hơn 60 năm trôi qua nhưng đến tận ngày nay tôi vẫn còn nhớ đến Kristallnacht, cứ như nó mới chỉ là ngày hôm qua. Nó rơi vào đúng 2 ngày sau sinh nhật lần thứ chín của tôi, khi đó tôi còn đang ngập chìm với các món đồ chơi  từ cửa hàng của cha tôi. Khi chúng tôi trở về căn hộ của mình một tuần sau khi bị đuổi, tất cả những thứ có giá trị đều bị mất, kể cả đồ chơi của tôi...

Ngay cả đối với một người được đào tạo về phân tâm học như tôi, có lẽ là vô ích khi cố gắng chỉ ra rằng những mối quan tâm và hành động phức tạp của cuộc sống về sau này của tôi do một vài trải nghiệm được lựa chọn của tuổi trẻ của tôi. Tuy nhiên, tôi không thể nào không tin rằng những trải nghiệm về năm cuối cùng của tôi ở Vienna giúp quyết định mối quan tâm sau này của tôi đối với tâm trí, về cách con người hành xử, tính khó đoán của động cơ và sự dai dẳng của ký ức… Tôi bị hành hạ, giống như những người khác, trước những sự kiện gây ra sang chấn của thời thơ ấu của tôi bị ghim chặt như thế nào trong ký ức.” 

Ông ta bị cuốn hút vào phân tâm học, vì ông tin rằng "cho đến nay nó vẫn là trường phái đưa ra quan điểm chặt chẽ, nhất quán, thú vị và đa sắc thái nhất về tâm trí con người" và, trong tất cả các trường phái tâm lý học, có sự hiểu biết toàn diện nhất về những mâu thuẫn, xung đột của hành vi con người, về cách mà những xã hội văn minh có thể đột ngột phóng thích "sự dã man tàn bạo ở quá nhiều người," và về một đất nước tưởng chừng văn minh như Áo lại có thể trở nên "tách rời hoàn toàn.” 

Phân tâm học (hay "phân tích") là một phương pháp điều trị giúp những người đang gặp rắc rối không chỉ bởi các triệu chứng mà còn bởi các khía cạnh trong tính cách của họ. Những vấn đề này xảy ra khi chúng ta có những xung đột nội tâm mạnh mẽ mà trong đó, như Kandel nói, những phần trong bản thân ta trở nên “tách rời” hoàn toàn hoặc cắt đứt với phần còn lại của chúng ta.

Trong khi sự nghiệp của Kandel đưa ông ta từ phòng khám đến phòng thí nghiệm khoa học thần kinh, thì Sigmund Freud bắt đầu sự nghiệp với tư cách là một nhà thần kinh học trong phòng thí nghiệm, nhưng vì ông quá nghèo nên không thể tiếp tục hành nghề, ông đã đi theo hướng ngược lại và trở thành một nhà thần kinh học trong thực hành tư nhân, để có được thu nhập đủ nuôi sống gia đình. Một trong những nỗ lực đầu tiên của ông là hợp nhất những gì ông đã học được về bộ não với tư cách là một nhà thần kinh học với những gì ông đang học hỏi về tâm trí trong khi điều trị cho bệnh nhân. Là một nhà thần kinh học, Freud sớm trở nên bất mãn với chủ nghĩa cục bộ thời bấy giờ-- nó dựa trên nghiên cứu của Broca và những người khác, và nhận ra rằng quan điểm về bộ não được lập trình không đủ để giải thích về những hoạt động tinh thần phức tạp, do văn hóa đòi hỏi, chẳng hạn như đọc và viết lại có thể làm được. Năm 1891, ông đã viết một cuốn sách có tựa đề On Aphasia, trong đó cho thấy những sai sót trong các bằng chứng hiện có về "một chức năng, một vị trí," và cho rằng các hiện tượng tinh thần phức tạp như đọc và viết không bị giới hạn ở những vùng vỏ não riêng biệt, và quan điểm của những người theo chủ nghĩa cục bộ cho rằng có một “trung tâm” não bộ dành cho khả năng biết đọc-biết viết là bất hợp lý, vì khả năng đọc viết không phải là điều bẩm sinh. Thay vào đó, bộ não trong quá trình sống của mỗi cá nhân chúng ta phải linh động tổ chức lại bản thân nó để thực hiện các chức năng do văn hóa đòi hỏi.

Năm 1895 Freud đã hoàn thành "Dự án Tâm lý học Khoa học", một trong những mô hình khoa học thần kinh toàn diện đầu tiên để hợp nhất bộ não và tâm trí, vẫn còn được nhiều người ngưỡng mộ bởi sự công phu của nó. Ở đây Freud nói đến "synapse," trước Sir Charles Sherrington vài năm. Trong "Dự án" Freud thậm chí còn mô tả về cách synapses, mà ông gọi là "các rào cản liên lạc," có thể thay đổi bởi những gì chúng ta học được, dự đoán về nghiên cứu của Kandel. Ông cũng bắt đầu đề xuất về ý tưởng khả biến thần kinh. 

Khái niệm tính dẻo (khả biến thần kinh) đầu tiên mà Freud phát triển là định luật cho rằng những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau thì sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, thường được gọi là định luật Hebb, mặc dù Freud đã đề xuất nó vào năm 1888, trước Hebb sáu mươi năm. Freud tuyên bố rằng khi hai nơ-ron đồng loạt bắn điện, việc bắn điện này tạo điều kiện thuận lợi cho sự liên kết giữa chúng. Freud nhấn mạnh rằng thứ liên kết các tế bào thần kinh chính là chúng cùng bắn điện cùng một lúc, và ông gọi hiện tượng này là quy luật liên kết bằng tính đồng thời. Quy Luật kết hợp giải thích tầm quan trọng của ý tưởng "liên tưởng tự do" của Freud, mà trong đó các bệnh nhân tham gia trị liệu phân tâm học nằm trên chiếc trường kỷ và "Liên tưởng-tự do," hoặc nói ra bất cứ thứ gì xuất hiện trong tâm trí họ, bất kể chúng có vẻ khó chịu , không thoải mái hoặc vặt vãnh thế nào. Nhà phân tích ngồi phía sau bệnh nhân, khuất tầm nhìn của bệnh nhân và thường nói rất ít. Freud nhận thấy rằng nếu ông ta không can thiệp, nhiều cảm xúc khó chịu và các kết nối thú vị sẽ xuất hiện trong liên tưởng của bệnh nhân — những ý nghĩ và cảm xúc mà bình thường bệnh nhân muốn xua đuổi. 

Liên tưởng tự do dựa trên nhận định rằng tất cả các liên tưởng tinh thần của chúng ta, ngay cả những liên tưởng có vẻ như xuất hiện “ngẫu nhiên” chẳng có ý nghĩa gì, là những biểu hiện của các liên kết được hình thành trong mạng lưới trí nhớ của chúng ta. Quy luật liên tưởng bằng tính đồng thời của ông ngụ ý những mối liên kết thay đổi trong mạng lưới thần kinh với những thay đổi trong mạng lưới trí nhớ của chúng ta, vì thế các nơ-ron bắn điện cùng nhau nhiều năm trước khi kết nối với nhau, và những liên kết gốc (ban đầu) này thường vẫn còn tồn tại và biểu lộ trong những liên tưởng tự do của bệnh nhân. 

Ý tưởng thứ hai về khả biến thần kinh của Freud đó là về giai đoạn tâm lý quan trọng và ý tưởng liên quan đến tính dẻo (khả biến thần kinh) về tình dục. Như ta đã thấy ở chương 4, Thị hiếu học được và Tình yêu," Freud là người đầu tiên cho rằng tính dục ở con người và khả năng yêu thương có những thời kỳ quan trọng trong thời kỳ thơ ấu mà ông gọi là "những giai đoạn tổ chức." Những gì xảy ra trong suốt giai đoạn quan trọng này có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng yêu thương và quan hệ của chúng ta sau này trong cuộc sống. Nếu có điều gì đó đi sai hướng, dù sau này ta có thể tạo ra những thay đổi trong cuộc sống, nhưng ta sẽ khó mà đạt được sự thay đổi về tính dẻo (khả biến thần kinh) sau khi giai đoạn quan trọng đã đóng

Ý tưởng thứ ba của Freud đó là quan điểm về tính dẻo (khả biến thần kinh) về trí nhớ. Ý tưởng Freud được kế thừa từ các giáo viên của ông đó là các sự kiện mà chúng ta trải nghiệm có thể để lại dấu vết ký ức vĩnh viễn trong tâm trí chúng ta. Nhưng khi ông bắt đầu làm việc với bệnh nhân, ông quan sát thấy các ký ức không phải được ghi lại chỉ duy nhất một lần, hoặc “khắc ghi” mãi mãi không thay đổi. Mà chúng có thể được thay đổi bởi các sự kiện tiếp theo và được sao chép lại. Freud quan sát thấy rằng các sự kiện có thể thay đổi ý nghĩa đối với bệnh nhân nhiều năm sau khi chúng đã xảy ra, và sau đó các bệnh nhân ấy đã thay đổi những ký ức của họ về các sự kiện đó. Những đứa trẻ từng bị lạm dụng tình dục khi còn rất bé và không thể hiểu được người khác đã gây ra chuyện gì với chúng thì không phải lúc nào cũng nổi giận vào thời điểm đó, và những ký ức ban đầu của chúng không phải lúc nào cũng tiêu cực. Nhưng khi họ trưởng thành về mặt tình dục và nhìn nhận lại vụ việc và trao cho nó ý nghĩa mới, và kí ức của họ về chuyện lạm dụng tình dục đã thay đổi.

 Vào năm 1896, Freud đã viết rằng thỉnh thoảng, những dấu vết ký ức phải chịu sự sắp xếp lại cho phù hợp với những hoàn cảnh mới.-và được sao chếp lại Do đó, điều mới mẻ về lý thuyết của tôi đó là luận điểm cho rằng ký ức không chỉ hiện diện một lần mà là nhiều lần." Các ký ức liên tục được sửa lại, "trong mọi phương diện tương tự như quá trình mà một quốc gia xây dựng nên những huyền thoại về lịch sử ban đầu của nó." Freud cho rằng, để thay đổi, các ký ức phải được nhận thức và trở thành trung tâm chú ý của chúng ta, như các nhà khoa học thần kinh đã chỉ ra. Thật không may, đối với trường hợp của Anh L, những ký ức sang chấn tâm lý của các sự kiện đã xảy ra thời thơ ấu không dễ dàng tiếp cận được đến ý thức, bởi thế mà chúng không thay đổi.

Ý tưởng về khả biến thần kinh thứ tư của Freud giúp lý giải làm thế nào ta có thể khiến những ký ức sang chấn trong vô thức trồi lên bề mặt ý thức và biên tập lại chúng. Ông quan sát thấy Trong sự thiếu hụt cảm giác nhẹ được tạo ra bởi việc ông ngồi khuất tầm nhìn của bệnh nhân, và chỉ bình luận khi ông hiểu rõ vấn đề của họ, bệnh nhân bắt đầu xem ông như nhân vật quan trọng trong quá khứ của họ, thường là cha mẹ của họ, đặc biệt là trong thời kỳ tâm lý quan trọng của họ. Cứ như thể các bệnh nhân đang sống lại những ký ức trong quá khứ mà không nhận ra điều đó. Freud gọi hiện tượng vô thức này là “sự chuyển dịch” vì bệnh nhân đang chuyển những kịch bản và cách nhìn nhận từ quá khứ sang hiện tại. Họ đã "làm sống lại" chúng thay vì "nhớ lại" chúng.

Một nhà phân tâm đứng khuất khỏi tầm nhìn và nói rất ít, trở thành một cái màn hình trống mà bệnh nhân bắt đầu phóng chiếu sự chuyển dịch của anh ta. Freud phát hiện thấy những bệnh nhân này không chỉ phóng chiếu những “chuyển dịch” này sang ông ta mà còn sang cả những người khác trong cuộc sống của họ, và họ không ý thức được mình đang làm điều này, và cách nhìn nhận méo mó về người khác thường khiến họ vướng phải rắc rối. Giúp bệnh nhân hiểu được sự chuyển dịch của họ cho phép họ cải thiện các mối quan hệ của họ. Điều quan trọng nhất là, Freud phát hiện ra sự chuyển dịch của những cảnh sang chấn tâm lý đầu đời có thể thay đổi được nếu ông ta chỉ cho bệnh nhân thấy điều gì đang diễn ra khi sự chuyển dịch bị kích hoạt và bệnh nhân chú ý kỹ đến chúng. Do đó các mạng nơ-ron thần kinh bên dưới, và các ký ức liên tưởng, có thể được ghi lại và được thay đổi. 

Anh L. mất mẹ lúc 26 tháng tuổi. Độ tuổi mà sự thay đổi tính dẻo của đứa trẻ đạt mức đỉnh điểm; các hệ thống não mới đang hình thành và tăng cường các kết nối thần kinh, và các bản đồ não đang phân hóa và hoàn thiện cấu trúc cơ bản của chúng với sự trợ giúp của kích thích và tương tác với thế giới. Bán cầu não phải thì vừa mới hoàn thành sự tăng trưởng bứt phá, và bán cầu não trái đang bắt đầu bứt phá.

Bán cầu não phải thường xử lý giao tiếp phi ngôn ngữ; nó cho phép chúng ta nhận diện khuôn mặt và đọc được các biểu cảm trên khuôn mặt, và nó kết nối chúng ta với người khác. Do đó, nó xử lý các tín hiệu thị giác phi ngôn ngữ giữa người mẹ và đứa bé. Nó cũng xử lý yếu tố cảm xúc ẩn chứa trong lời nói, hoặc giọng nói, mà qua đó chúng ta truyền đạt cảm xúc. Trong giai đoạn tăng trưởng bứt phá của bán cầu não phải từ khi sinh ra đến năm 2 tuổi, các chức năng này trải qua những giai đoạn quan trọng.

Bán cầu não trái thường xử lý các yếu tố ngôn ngữ của lời nói, trái ngược với các yếu tố cảm xúc của lời nói, và phân tích vấn đề bằng cách xử lý ý thức. Em bé có bán cầu não phải lớn hơn, cho đến cuối năm thứ hai, và bởi vì bán cầu não trái mới chỉ bắt đầu phát triển, cho nên bán cầu não phải của chúng ta thống trị não bộ trong ba năm đầu đời.

Đứa bé 26 tháng tuổi là một sinh vật cảm xúc phức tạp thiên về "não phải" nhưng không thể nói về những trải nghiệm của chúng, vì đó là một chức năng của não trái. Quét não cho thấy trong hai năm đầu đời, người mẹ chủ yếu giao tiếp phi ngôn ngữ để chạm được đến bán cầu não phải của đứa con cô ấy.

Một giai đoạn quan trọng đặc biệt kéo dài từ khoảng 10-12 tháng đến 16-18 tháng, trong đó một khu vực quan trọng của thùy trán phải đang phát triển và định hình các mạch não sẽ cho phép trẻ sơ sinh duy trì những mối gắn bó của con người và điều chỉnh cảm xúc. Khu vực trưởng thành này, phần não phía sau mắt phải của chúng ta, được gọi là hệ thống trán ổ mắt bên phải. (Hệ thống vỏ não trán ổ mắt có khu vực trung tâm của nó nằm ở vỏ não trán ổ mắt, đã được thảo luận trong chương 6, nhưng "hệ thống" bao gồm các liên kết đến hệ viền limbic, xử lý cảm xúc.) Hệ thống này cho phép chúng ta đọc được những biểu cảm cảm trên khuôn mặt người, và do đó cũng là những cảm xúc của họ, và cũng hiểu và kiểm soát được những cảm xúc của chúng ta. Ông L khi mới 26 tháng tuổi đã hoàn thành sự phát triển vùng trán ổ mắt nhưng sẽ không có cơ hội củng cố nó.  

Một người mẹ ở bên con trong giai đoạn quan trọng để phát triển cảm xúc và sự gắn bó, liên tục dạy cho trẻ cảm xúc là gì bằng cách sử dụng lời nói đầy cảm xúc và những cử chỉ không lời. Khi bà ấy nhìn con mình nuốt nhiều không khí cùng với sữa khi bú, bà ấy có thể nói: "Đây, đây, cục cưng, trông con khó chịu quá”, đừng sợ, bạn bị đau bụng vì bạn bú quá nhanh. Để Mẹ vỗ vỗ cho bạn ợ, và ôm ấp bạn khiến bạn cảm thấy mọi chuyện đều ổn. Bà ấy đang nói cho đứa trẻ biết tên của cảm xúc (sợ hãi), rằng nó có một yếu tố kích hoạt (cô bé bú quá nhanh), rằng cảm xúc được truyền đạt bằng biểu cảm trên khuôn mặt ("trông con khó chịu quá"), rằng nó có liên quan đến cảm giác cơ thể (đau quặn bụng) và tìm đến người khác để được an ủi thường sẽ có ích ("Để mẹ vỗ vỗ cho bạn ợ và ôm bạn"). Người mẹ đó đã cho đứa con một khóa huấn luyện về nhiều khía cạnh của cảm xúc được truyền tải không chỉ bằng lời nói mà còn bằng cảm xúc yêu thương trong giọng nói của bà và sự trấn an từ cử chỉ điệu bộ của bà. 

Để đứa trẻ hiểu được và điều chỉnh được cảm xúc của chúng và và biết kết nối xã hội, chúng cần được trải nghiệm kiểu tương tác này hàng trăm lần trong thời kỳ quan trọng và sau đó củng cố nó sau này trong cuộc sống. 

Anh L. mất mẹ chỉ vài tháng sau khi hoàn thành việc phát triển hệ thống trán ổ mắt của mình. Vì vậy nó phụ thuộc vào người khác, mà bản thân họ cũng đang buồn khổ và do đó kém nhạy cảm, ít quan tâm đến anh bằng mẹ, để giúp anh ta sử dụng và thực hành hệ thống trán ổ mắt của mình, nếu không nó sẽ bắt đầu bị suy yếu. Những trẻ mồ côi mẹ lúc bé gần như luôn luôn bị đập bởi hai trận đòn tàn khốc: cái chết cướp mất mẹ của cậu ta và bệnh trầm cảm thì cướp đi người bố của cậu. Nếu những người khác không thể giúp anh ta xoa dịu bản thân và điều chỉnh cảm xúc của mình như cách mẹ anh ta đã làm, thì anh sẽ học cách "tự động-điều chỉnh" bằng cách dập tắt cảm xúc của mình. Khi Anh L đi điều trị tâm lý, anh vẫn có xu hướng dập tắt cảm xúc này và gặp khó khăn trong việc duy trì những mối gắn bó. 

Rất lâu trước khi có công nghệ quét hình ảnh của vỏ não trán ổ mắt, các nhà phân tâm học đã nhận thấy những đặc điểm của những đứa trẻ thiếu thốn tình mẹ trong giai đoạn quan trọng đầu đời. Trong Thế chiến II, Rene Spitz đã nghiên cứu những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi chính mẹ của chúng trong tù, so với những trẻ được nuôi ở một trại trẻ mồ côi, nơi một y tá chịu trách nhiệm chăm sóc bảy đứa trẻ. Những đứa trẻ ở trại mồ côi đã ngừng phát triển trí tuệ, không thể kiểm soát được cảm xúc của chúng và làm những động tác tay kỳ quặc. Chúng cũng bước vào trạng thái “tắt nguồn" và vô cảm với thế giới, không phản ứng với những người cố gắng trấn an chúng. Trong các bức ảnh, những đứa trẻ này có một cái nhìn xa xăm, ám ảnh trong mắt chúng. Trạng thái tắt nguồn hay "tê liệt" xảy ra khi trẻ từ bỏ mọi hy vọng tìm lại được người cha người mẹ đã mất của mình. Nhưng làm sao Anh L , người từng trải qua trạng thái tương tự, lại có thể ghi nhận được những trải nghiệm đầu đời đó trong trí nhớ của anh? 

Các nhà thần kinh học nhận ra có hai hệ thống trí nhớ chính. Cả hai đều thay đổi về tính dẻo (thần kinh) trong tâm lý trị liệu.

Hệ thống trí nhớ được phát triển tốt ở đứa trẻ 26 tháng tuổi được gọi là trí nhớ “ẩn tàng” hay trí nhớ "tiến trình". Những thuật ngữ này thường được Kandel sử dụng thay thế cho nhau. Trí nhớ ẩn tàng hoạt động khi chúng ta học một tiến trình hoặc một nhóm các hành động tự động, diễn ra bên ngoài sự tập trung chú ý của chúng ta, mà nhìn chung là không yêu cầu về từ ngữ. Những tương tác phi ngôn ngữ của chúng ta với mọi người và nhiều ký ức cảm xúc của chúng ta là một phần của hệ thống trí nhớ tiến trình. Kandel nói, "Trong 2-3 năm đầu đời, khi tương tác của trẻ sơ sinh với mẹ đặc biệt quan trọng, trẻ sơ sinh chủ yếu dựa vào hệ thống trí nhớ tiến trình của nó." Những ký ức tiến trình nhìn chung là thuộc về vô thức. Đạp xe đạp phụ thuộc vào trí nhớ tiến trình, và hầu hết mọi người đạp xe một cách dễ dàng sẽ cảm thấy lúng túng, khó khăn để giải thích chính xác cách họ thực hiện việc đó. Hệ thống trí nhớ tiến trình xác nhận rằng chúng ta có những ký ức vô thức, như đề xuất của Freud. 

 

Đọc tiếp chương 9.2 ở đây

menu
menu