Bộ não tự thay đổi chính nó (chương 9.2)

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-9-2

Một nhà trị liệu tâm lý hoặc nhà phân tâm học giỏi là một "bác sĩ vi phẫu thuật của tâm trí" giúp bệnh nhân tạo ra những thay đổi cần thiết trong mạng lưới thần kinh của họ.

Hình thức khác của trí nhớ được gọi là trí nhớ "rõ ràng" hay trí nhớ "quy nạp”, mới bắt đầu phát triển ở độ tuổi 26 tháng. Trí nhớ rõ ràng hồi tưởng lại những sự kiện và tình tiết cụ thể. Đó là trí nhớ chúng ta sử dụng khi ta mô tả và làm rõ những gì ta đã làm vào cuối tuần, và với ai, và trong bao lâu. Nó giúp chúng ta sắp xếp ký ức của mình theo thời gian và địa điểm. Trí nhớ rõ ràng được hỗ trợ bởi ngôn ngữ và trở nên quan trọng hơn một khi trẻ có thể nói chuyện.

Những người đã bị sang chấn trong 3 năm đầu đời của họ có thể được cho là nếu có thì cũng chỉ có rất ít ký ức rõ ràng về sang chấn của họ. (Anh L. nói rằng anh không có một ký ức nào trong 4 năm đầu đời của mình.) Nhưng những ký ức tiến trình/ẩn tàng về những chấn thương này vẫn còn đó và thường được gợi lên hoặc kích hoạt khi con người gặp phải những tình huống giống với sang chấn tâm lý. Những ký ức như vậy thường bỗng dưng ở đâu tìm đến ta và dường như không được phân loại theo thời gian, địa điểm và bối cảnh, giống như đa số ký ức rõ ràng. Những ký ức tiến trình về tương tác tình cảm thường lặp đi lặp lại trong cơ chế chuyển dịch, hoặc trong cuộc sống.

Ký ức rõ ràng được phát hiện thông qua quan sát một trường hợp về trí nhớ nổi tiếng nhất trong khoa học thần kinh - một thanh niên tên H.M., bị động kinh nặng. Để điều trị, các bác sĩ đã cắt một phần não của anh có kích thước bằng ngón tay cái của con người, hồi hải mã. (Trên thực tế có tới hai "hồi hải mã," ở mỗi bên bán cầu não, và cả hai đều bị cắt bỏ.). Sau khi phẫu thuật H.M. lúc đầu trông có vẻ bình thường. Anh ấy nhận ra gia đình và có thể giao tiếp trò chuyện. Nhưng chẳng bao lâu sau khi làm phẫu thuật, anh ta không thể học thêm bất kì sự kiện mới nào. Khi các bác sĩ đến thăm và trò chuyện với anh, và rời đi, rồi sau đó quay lại, anh ấy không có ký ức gì về cuộc gặp trước đó. Chúng ta học được từ trường hợp của H.M, rằng hồi hải mã biến các ký ức rõ ràng, trong ngắn hạn của chúng ta thành ký ức rõ ràng, dài hạn, về con người, sự việc và nơi chốn—những ký ức mà chúng ta có thể truy cập được (về ý thức). 

Phân tâm học giúp bệnh nhân đưa những ký ức tiến trình và hành động vô thức của họ thành từ ngữ/lời nói và đặt vào bối cảnh, để họ có thể hiểu rõ hơn về chúng. Trong quá trình họ ghi lại những ký ức tiến trình này, để họ trở nên ý thức về các ký ức tiến trình, đôi lúc, lần đầu tiên trong đời, và bệnh nhân không cần phải “sống lại" hoặc "tái diễn lại" chúng, đặc biệt nếu chúng là sang chấn tâm lý.  

Anh L. đã nhanh chóng làm trị liệu phân tâm học và làm liên tưởng tự do và bắt đầu phát hiện thấy, giống như nhiều bệnh nhân khác, những giấc mơ từ đêm hôm trước thường xuất hiện trong đầu. Chẳng mấy chốc, anh bắt đầu thông báo về giấc mơ cứ tái diễn, trở đi trở lại của mình về việc tìm kiếm một đồ vật không xác định, nhưng bổ sung thêm nhiều chi tiết mới— "đồ vật đó" có thể là một con người: 

Vật thể bị mất có thể là một phần của tôi, có thể không, có thể là đồ chơi, vật sở hữu hoặc một người. Tôi nhất định phải có nó. Tôi sẽ nhận ra nó khi tôi tìm thấy nó. Nhưng đôi lúc tôi cũng không chắc chắn liệu nó có tồn tại hay không, và do đó tôi không chắc về thứ bị mất.

Tôi chỉ cho anh thấy một kiểu mẫu đang xuất hiện. Anh thông báo không chỉ có những giấc mơ đó mà còn cả những cơn trầm cảm và cảm giác tê liệt của anh sau những kỳ nghỉ cũng làm gián đoạn công việc của chúng tôi. Lúc đầu, anh ta không tin tôi, nhưng những cơn trầm cảm và giấc mơ mất mát - có thể là về một ngườivẫn tiếp tục xuất hiện vào những lúc nghỉ ngơi. Sau đó anh ấy nhớ lại rằng sự gián đoạn trong công việc cũng dẫn đến những cơn trầm cảm bí ẩn.

Những ý nghĩ trong giấc mơ tìm kiếm tuyệt vọng của anh được liên kết, trong trí nhớ của anh, với sự chăm sóc bị gián đoạn, ngắt quãng, và các tế bào thần kinh mã hóa những ký ức này có lẽ được kết nối với nhau trong quá trình phát triển đầu đời của anh ta. Nhưng anh không còn ý thức được mối liên kết quá khứ này. “Đồ chơi bị mất" trong giấc mơ là manh mối cho thấy nỗi khổ hiện tại của anh ta được tô màu bởi những mất mát thời thơ ấu. Nhưng giấc mơ ngụ ý rằng sự mất mát đang xảy ra ngay bây giờ. Quá khứ và hiện tại đã được trộn lẫn với nhau, và một sự chuyển dịch đã được kích hoạt. Và ngay lúc đó, tôi, với tư cách là một nhà phân tâm, đã làm việc mà một bà mẹ nhạy cảm vẫn hay làm, khi bà ấy phát triển hệ thống trán ổ mắt của anh, bằng cách chỉ ra những cảm xúc cơ bản — giúp anh gọi tên những cảm xúc của mình, cái gì kích hoạt chúng, và chúng ảnh hưởng như thế nào đến trạng thái thể chất và tâm lý của anh. Chẳng mấy chốc, anh ấy đã có khả năng phát hiện được yếu tố kích hoạt và các cảm xúc của mình.

Những sự gián đoạn gợi lên ba kiểu ký ức tiến trình khác nhau: một trạng thái lo lắng, trong đó anh ta đang mòn mỏi chờ đợi và tìm kiếm người mẹ và gia đình đã mất của mình; một trạng thái chán nản, trong đó anh ta tuyệt vọng tìm thấy điều mà anh ta đang tìm; và một trạng thái tê liệt, khi anh dập tắt và thời gian như đứng lại, có lẽ bởi vì anh cảm thấy hoàn toàn bị choáng ngợp.

Bằng cách nói về những trải nghiệm ấy, lần đầu tiên trong đời trưởng thành của mình, anh có thể kết nối cuộc tìm kiếm tuyệt vọng của mình với yếu tố kích hoạt thực sự của nó, sự mất mát của một người, và nhận ra tâm trí và bộ não của anh vẫn hợp nhất quan điểm về sự ly biệt với ý tưởng về cái chết của mẹ anh. Khi tạo ra những kết nối này, và cũng nhận ra rằng anh không còn là một đứa trẻ bất lực, anh cảm thấy đỡ choáng ngợp.

Theo thuật ngữ khả biến thần kinh, kích hoạt và chú ý kỹ đến mối liên kết giữa những lần xa cách hằng ngày và phản ứng thảm họa của anh trước chúng cho phép anh ngắt mối liên kết và thay đổi mô hình. 

Khi Anh L. trở nên ý thức rằng anh ta đang phản ứng trước những lần xa cách (trong thời gian ngắn) của chúng tôi như thể chúng là những mất mát lớn, anh có một giấc mơ như sau:

Tôi cùng với một người đàn ông đang di chuyển một chiếc hộp bằng gỗ lớn có đựng một quả cân bên trong.

Khi anh liên tưởng tự do đến giấc mơ, nhiều ý nghĩ xuất hiện trong tâm trí. Chiếc hộp khiến anh nhớ đến hộp đồ chơi của mình nhưng cũng là một cỗ quan tài. Giấc mơ dường như đang nói bằng những hình ảnh mang tính biểu tượng rằng anh ta đang mang theo gánh nặng của cái chết của mẹ mình. Sau đó, người đàn ông trong giấc mơ nói: "Hãy nhìn vào cái giá bạn đã trả cho chiếc hộp này". Tôi bắt đầu bị bóc trần, và chân tôi đang trong tình trạng thê thảm, đầy sẹo, đóng đầy vảy, và được chữa lành bằng một cục u là một phần đã chết của tôi. Tôi không biết cái giá phải trả sẽ đắt như thế này

Những lời như "Tôi không biết cái giá (phải trả) sẽ đắt như thế này" được liên kết trong tâm trí anh cùng với việc anh càng ngày càng nhận ra mình vẫn bị ảnh hưởng bởi cái chết của mẹ. Anh từng bị thương và vẫn còn “vết sẹo”. Ngay sau khi nói lên suy nghĩ đó, anh dần chìm vào im lặng và có được một trong những sự giác ngộ lớn của cuộc đời anh. "Bất cứ khi nào tôi ở bên một người phụ nữ," anh nói, "Tôi liền nghĩ rằng cô ấy không phải người dành cho mình, và tôi tưởng tượng rằng đâu đó ngoài kia sẽ có một vài người phụ nữ lý tưởng khác, đang đợi tôi." Sau đấy, nghe có vẻ sốc, anh nói, "Tôi chợt nhận ra rằng những người phụ nữ khác đó dường như là một thứ cảm giác mơ hồ về mẹ mà tôi có khi còn bé, và bà ấy là người mà tôi phải chung thủy, nhưng cũng là người mà tôi không bao giờ tìm thấy. Người phụ nữ mà tôi đang ở bên trở thành mẹ nuôi của tôi, và yêu cô ấy tức là đang phản bội lại người mẹ ruột của tôi.” 

Anh ta đột nhiên nhận ra thôi thúc lừa dối (vợ) xảy ra khi anh gần gũi hơn với vợ, đang đe dọa sự ràng buộc giấu kín của anh với mẹ anh. Sự không chung thủy của anh ta luôn luôn phục vụ cho một sự chung thủy “cao hơn” trong vô thức. Tiết lộ này cũng là dấu vết đầu tiên cho thấy anh đã ghi nhận một vài kiểu gắn bó với mẹ anh.

Khi tôi tiếp tục tự hỏi liệu anh ta có thể coi tôi với tư cách là người đàn ông (trong giấc mơ của anh ta), người nói rằng anh ta cảm thấy bị tổn thương như thế nào, lần đầu tiên trong quãng đời trưởng thành của anh, Anh L đã bật khóc. 

Anh L. không khá hơn ngay lập tức. Trước tiên anh ấy phải trải qua các chu kỳ tách biệt, những giấc mơ, trầm cảm và bừng ngộ - sự lặp đi lặp lại, hay "nỗ lực" là cần thiết để thay đổi khả biến thần kinh về lâu dài. Những cách liên kết mới phải được học, kết nối các nơ-ron mới lại với nhau, và những cách phản ứng cũ phải bị gạt bỏ, quên đi để làm suy yếu các liên kết thần kinh. Vì Anh L đã liên kết các ý tưởng về sự biệt ly và cái chết, nên chúng đã được kết nối với nhau trong mạng lưới thần kinh của anh ta. Bây giờ anh ta đã nhận ra mối liên kết của mình thì anh ta có thể gỡ bỏ nó. 

Tất cả chúng ta đều có cơ chế phòng vệ, các kiểu phản ứng, nhằm che giấu những tư tưởng, cảm xúc và ký ức đau đớn không thể chịu đựng nổi, không cho chúng trồi lên bề mặt ý thức. Một trong những phòng vệ này được gọi là sự phân ly (dissociation) giữ cho các ý tưởng hoặc cảm giác gây đe dọa tách biệt với phần còn lại của tâm lý. Trong phân tâm, Anh L bắt đầu có cơ hội tái trải nghiệm những ký ức tự thuật đau đớn về việc tìm kiếm mẹ bị đóng băng bởi thời gian và phân lý/tách ra khỏi những ký ức có ý thức của anh ta. Mỗi lần anh làm vậy, anh cảm thấy toàn vẹn hơn khi các nhóm nơ-ron mã hóa các ký ức của anh từng bị mất kết nối thì giờ đây được kết nối lại. 

Các nhà phân tâm học kể từ Freud đã lưu ý rằng một số bệnh nhân trong khi làm phân tâm đã phát triển những cảm xúc mạnh mẽ đối với nhà phân tâm. Điều này đã xảy ra trong trường hợp của Anh L.   Một cảm giác thân thiết tích cực và ấm áp được phát triển giữa chúng tôi. Freud cho rằng những cảm xúc tích cực, mạnh mẽ được chuyển dịch đó đã trở thành một trong nhiều động cơ thúc đẩy việc chữa lành. Theo thuật ngữ khoa học thần kinh, điều này có thể giúp ích vì cảm xúc và mô hình chúng ta biểu lộ trong các mối quan hệ là một phần của hệ thống trí nhớ tiến trình. Khi các mô hình như vậy được kích hoạt trong trị liệu, nó cho bệnh nhân cơ hội nhìn vào chúng và thay đổi chúng, như chúng ta đã thấy trong chương 4, "Những thị hiếu do học được và tình yêu," những mối quan hệ, gắn bó tích cực dường như tạo điều kiện thuận lợi cho sự thay đổi về tính dẻo thần kinh bằng cách kích hoạt sự gỡ bỏ và làm tan biến những mạng thần kinh đang tồn tại, vì vậy bệnh nhân có thể thay đổi ý định hiện có của mình.

"Không còn nghi ngờ gì nữa", Kandel viết, "trị liệu tâm lý có thể dẫn đến những thay đổi có thể tìm thấy trong não." Quét não gần đây được thực hiện trước và sau khi trị liệu tâm lý cho thấy cả não bộ tự tổ chức lại bản thân nó (về tính dẻo) trong trị liệu và việc trị liệu càng thành công thì sự thay đổi càng lớn. Khi bệnh nhân sống lại những sang chấn tâm lý của họ và có những hồi ức và cảm xúc không thể kiểm soát, dòng máu chảy đến thùy trước trán và thùy trán-- giúp điều chỉnh hành vi của chúng ta--bị suy giảm, cho thấy những khu vực này ít hoạt động, kém tích cực. Theo nhà phân tâm học-thần kinh Mark Solms và nhà khoa học thần kinh Oliver Turnbull, "Mục đích của phương pháp trị liệu bằng cách trò chuyện...từ quan điểm của sinh học thần kinh  [là] để mở rộng phạm vi ảnh hưởng của thùy trước trán.” 

Một nghiên cứu trên bệnh nhân trầm cảm được điều trị bằng liệu pháp tâm lý liên cá nhân -- một liệu pháp ngắn hạn, một phần dựa trên nghiên cứu lý thuyết của hai nhà phân tâm học, John Bowlby và Harry Stack Sullivancho thấy hoạt động của não trước trán được bình thường hóa khi điều trị. (Hệ thống trán ổ mắt phải, rất quan trọng trong việc nhận biết và điều chỉnh cảm xúc và các mối quan hệmột chức năng đã bị xáo trộn ở Anh Llà một phần của vỏ não trước trán.) Một nghiên cứu quét não bộ fMRI gần đây về bệnh nhân lo âu với rối loạn hoảng sợ cho thấy hệ viền limbic của họ có xu hướng bị kích hoạt một cách bất thường bởi kích thích đe dọa tiềm tàng, đã giảm sau khi trị liệu phân tâm học.

Khi Anh L. bắt đầu hiểu các triệu chứng sau-sang chấn tâm lý của mình, anh ta bắt đầu “điều chỉnh” cảm xúc của bản thân tốt hơn. Anh thông báo rằng bên ngoài phòng trị liệu phân tâm, anh đã có khả năng kiểm soát bản thân nhiều hơn. Trạng thái tê liệt bí ẩn của anh giảm đi. Khi anh có những cảm xúc đau đớn, anh không còn mượn rượu giải sầu như trước đây. Bây giờ Anh L bắt đầu bớt cảnh giác và ít phòng thủ hơn. Anh cảm thấy thoải mái hơn khi bộc lộ sự tức giận và cảm thấy gần gũi hơn với các con của anh. Anh ngày càng sử dụng các buổi trị liệu để đối mặt với nỗi đau của mình thay vì dập tắt nó. Bây giờ Anh L rơi vào những khoảng lặng kéo dài có một tác động sâu sắc đến anh. Vẻ mặt của anh cho thấy anh đang vô cùng đau đớn, đang cảm nhận một nỗi buồn khủng khiếp, mà anh không thể nói nên lời. 

Bởi vì những cảm xúc của anh ấy về sự ra đi của người mẹ không được nói đến khi anh còn bé, và cả gia đình xử lý với nỗi đau bằng cách cứ tiếp tục sinh hoạt như bình thường, và vì anh ấy đã im lặng quá lâu, tôi đánh liều và thử diễn đạt bằng lời những cử chỉ phi ngôn ngữ của anh ấy. Tôi nói, "Như thể anh đang nói với tôi, có lẽ anh từng muốn nói với gia đình anh rằng, Mọi người có thấy không, sau mất mát khủng khiếp này, tôi phải trầm cảm ngay bây giờ?'“ 

Anh bật khóc lần thứ hai trong trị liệu phân tâm. Lúc đang khóc, anh bắt đầu lè lưỡi một cách bản năng và nhịp nhàng, làm anh trông giống một đứa bé bị tước khỏi bầu vú mẹ và đang thè lưỡi để tìm nó. Sau đó anh che mặt, đưa tay vào miệng như một đứa trẻ hai tuổi, và khóc nức nở. Anh nói, "Tôi muốn được an ủi vì những nỗi đau và mất mát của mình, nhưng đừng đến quá gần để an ủi tôi. Tôi muốn được ở một mình với nỗi đau của tôi. Anh không thể hiểu được đâu, vì ngay cả tôi cũng chẳng hiểu nổi. Đó là nỗi đau quá lớn.” 

Nghe điều này, cả hai chúng tôi đều biết rằng anh ấy thường giữ lập trường "từ chối sự an ủi" và nó góp phần gây ra sự “cách biệt” trong tính cách của anh ấy. Anh trải qua một cơ chế phòng vệ từng tạo nên từ thời bé và điều đó giúp anh phong tỏa nỗi mất mát to lớn của mình. Sự phòng thủ đó, bằng cách lặp đi lặp lại hàng ngàn lần, đã được củng cố về mặt tính dẻo thần kinh. Đây là điểm rõ ràng nhất trong tính cách của anh ấy, sự cách biệt của anh ấy, vốn không bị quy định về mặt di truyền, mà đó là do học được, và bây giờ nó đang được gỡ bỏ.

Có thể việc Anh L. khóc lóc và thè lưỡi ra như một đứa bé trông thật khác thường, nhưng nó là trải nghiệm đầu tiên trong nhiều trải nghiệm “trẻ con” mà anh ấy sẽ có trên trường kỷ. Freud quan sát thấy các bệnh nhân từng bị sang chấn tâm lý hồi bé thì thường sẽ, vào những khoảnh khắc then chốt, "thoái lui" (dùng thuật ngữ của ông ấy) và không chỉ nhớ những ký ức đầu đời mà còn trải nghiệm chúng theo cách giống như trẻ con. Điều này hoàn toàn hợp lý từ quan điểm khả biến thần kinh. Anh L vừa từ bỏ một cơ chế phòng vệ mà anh ta từng dùng khi bé—sự phủ nhận tác động cảm xúc của nỗi mất mát của anh — và nó đã phơi bày những ký ức và nỗi đau cảm xúc mà người bào chữa đã che giấu. Hãy nhớ lại về Bach-y- Rita đã mô tả một điều tương tự xảy ra ở những bệnh nhân đang trải qua quá trình tổ chức lại bộ não. Nếu một mạng lưới não bộ được thiết lập bị chặn lại thì những mạng lưới não bộ cũ hơn, đã tồn tại từ lâu trước mạng lưới được thiết lập, phải được sử dụng. Ông gọi điều này là "lột trần" những con đường thần kinh cũ hơn và cho rằng nó là một trong những cách chính mà bộ não tự tổ chức lại bản thân. Sự thoái lui trong phân tâm học ở cấp độ thần kinh, tôi tin rằng, là một ví dụ của sự bóc trần, thường xuất hiện trước việc tái tổ chức về mặt tâm lý. Đó là điều xảy ra với Anh L. 

Trong buổi trị liệu tiếp theo, anh thông báo rằng giấc mơ hay tái diễn của anh đã thay đổi. Lần này anh đến thăm ngôi nhà cũ của mình, đang tìm kiếm "những đồ vật của người lớn." Giấc mơ báo hiệu rằng một phần đã chết của anh ta sẽ hồi sinh lại: 

Tôi đi thăm một ngôi nhà cũ. Tôi không biết chủ nhà là ai, nhưng nó không phải của tôi. Tôi đang tìm kiếm thứ gì đó - bây giờ không phải là đồ chơi, mà là những đồ vật của người trưởng thành. Đó là vào đầu mùa xuân băng đang tan, cuối mùa đông. Tôi bước vào nhà, và đó là ngôi nhà nơi tôi sinh ra. Tôi nghĩ rằng ngôi nhà trống rỗng, nhưng vợ cũ của tôi - người mà tôi cảm thấy giống như một người mẹ tốt đối với tôixuất hiện từ phòng đằng sau, đang bị ngập lụt. Cô ấy chào đón tôi và vui vẻ khi gặp tôi, và tôi cảm thấy phấn chấn. Anh hiện lên từ cảm giác bị cô lập, bị cắt đứt khỏi mọi người và từ những bộ phận của chính mình. Giấc mơ là về "mùa xuân tan băng" đầy cảm xúc của anh ấy và một người giống như mẹ xuất hiện cùng anh trong ngôi nhà nơi anh từng trải qua thời thơ ấu của mình. Cuối cùng thì ngôi nhà không còn trống rỗng. Những giấc mơ tương tự tiếp theo, mà trong đó anh biến đổi quá khứ của mình, ý thức về bản thân anh, và cảm giác rằng anh từng có một người mẹ.

Một ngày nọ, anh đề cập đến một bài thơ về một người mẹ Ấn Độ đói khát, người đã cho đứa con của mình ăn miếng thức ăn cuối cùng trước khi chết. Anh không thể hiểu tại sao bài thơ lại khiến anh xúc động như vậy. Sau đó, anh dừng lại và khóc than, "Mẹ tôi đã hy sinh cuộc đời bà cho tôi!" Anh rên rỉ, toàn thân run rẩy, im lặng, rồi hét lên: "Tôi muốn mẹ tôi!

Anh L không bị chứng cuồng hysteria, nhưng hiện tại đang trải nghiệm tất cả những đau đớn cảm xúc mà các cơ chế phòng vệ của anh ta từng hất hủi, làm sống lại những suy nghĩ và cảm xúc mà anh có khi còn là một đứa trẻ— anh đang thoái lui và lột trần những mạng lưới trí nhớ cũ, thậm chí cả những cách nói chuyện. Nhưng một lần nữa điều này được theo sau bởi sự sắp xếp lại tâm lý ở cấp độ cao hơn.

Sau khi thừa nhận cảm giác vô cùng nhớ mẹ, anh đã đi viếng mộ bà lần đầu tiên trong đời. Giống như là một phần trong tâm tưởng của anh còn giữ khư khư lấy cái ý tưởng mầu nhiệm rằng bà còn sống. Bây giờ anh đã có thể chấp nhận, trong tận tâm can anh, rằng bà đã chết. 

Năm sau, Anh L lần đầu tiên trong quãng đời trưởng thành, đã yêu sâu đậm một người phụ nữ. Anh cũng trở nên chiếm hữu người yêu và có cảm giác ghen tuông như người bình thường, đó cũng là lần đầu tiên. Bây giờ anh đã hiểu được tại sao phụ nữ lại tức giận vì thái độ xa cách và thiếu cam kết của anh, và cảm thấy buồn và tội lỗi. Anh cũng cảm thấy mình đã khám phá ra một phần của bản thân anh từng liên kết với người mẹ và đã mất đi khi bà qua đời. Tìm thấy cái phần đó của bản thân từng yêu thương một người phụ nữ cho phép anh lại rơi vào lưới tình một lần nữa. Sau đó anh đã có giấc mơ cuối cùng của mình trong trị liệu phân tâm: 

Tôi thấy mẹ mình đang chơi piano, và sau đó tôi đi gặp người khác và khi tôi quay lại bà ấy đang nằm trong cỗ quan tài. 

Khi liên tưởng đến giấc mơ, anh giật mình khi thấy hình ảnh mình nhìn thấy mẹ anh đang nằm trong cỗ quan tài đang mở ta, chạm vào bà, và chết lặng khi nhận ra bà không đáp lại. Anh khóc lóc thảm thiết, và vượt qua nỗi đau ban sơ, toàn thân anh co giật trong mười phút. Khi anh dịu xuống, anh nói, "Tôi tin rằng đây là một ký ức về sự tỉnh dậy của mẹ tôi, được tiến hành với cỗ quan tài mở.” 

Anh L. đã cảm thấy tốt hơn, và khác xưa. Anh ta có mối quan hệ tình cảm ổn định với một người phụ nữ, mối quan hệ của anh với con cái trở nên sâu sắc hơn, và anh không còn giữ thái độ xa cách nữa. Trong buổi trị liệu cuối cùng của mình anh thông báo rằng anh đã nói chuyện với một người chị lớn tuổi, chị ấy xác nhận rằng trong đám tang mẹ mà anh có mặt, họ đã để mở quan tài. Khi chúng tôi chia tay, Anh L cảm thấy buồn nhưng không còn trầm uất hay tê liệt trước cái ý nghĩ ly biệt mãi mãi. Đã mười năm trôi qua kể từ khi anh hoàn thành trị liệu phân tâm, anh đã thoát khỏi những cơn trầm cảm nặng và nói rằng phân tâm học “đã thay đổi cuộc đời tôi và cho tôi nắm quyền kiểm soát nó.”

Nhiều người trong chúng ta, vì chứng mất trí nhớ ở trẻ sơ sinh, có thể không tin rằng người lớn có thể nhớ lại được những ký ức đã xảy ra quá lâu như Anh L. Sự nghi ngờ này từng phổ biến tới mức chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để xem xét về vấn đề này, nhưng các nghiên cứu mới cho thấy những trẻ sơ sinh trong 1 và 2 năm đầu đời có thể lưu giữ được những sự kiện, bao gồm cả những sự kiện sang chấn tâm lý. Mặc dù hệ thống trí nhớ rõ ràng không mạnh trong mấy năm đầu đời, nghiên cứu của Carolyn Rovee Collier và những người khác cho thấy nó thực sự tồn tại, ngay cả ở những trẻ sơ sinh chưa thể giao tiếp bằng lời nói. Trẻ em có thể nhớ được những sự kiện từ những năm đầu đời nếu chúng được nhắc. Những đứa trẻ lớn hơn có thể nhớ được các sự việc từng xảy ra trước khi chúng biết nói và một khi chúng học nói được thì chúng có thể diễn đạt thành lời những ký ức đó. Có những lúc Anh L đang làm điều này, lần đầu tiên diễn đạt bằng lời nói những sự việc mà anh ta từng trải qua. Những lần khác, khi anh bỏ chặn những sự kiện từng tồn tại trong ký ức rõ ràng của anh bấy lâu, chẳng hạn như ý nghĩ Mẹ đã hy sinh cuộc đời bà vì tôi, hoặc ký ức của anh ấy về sự thức giấc của mẹ, chúng được kiểm tra độc lập. Và những lần khác, anh "sao chép lại" những trải nghiệm từ hệ thống trí nhớ tiến trình của anh sang hế thống trí nhớ rõ ràng. Và thật thú vị, giấc mơ cốt lõi của anh ấy dường như ghi nhận rằng anh đang gặp 1 vấn đề lớn với trí nhớ của mình — anh đang tìm kiếm một thứ gì đó nhưng không thể nhớ được đó là gì—mặc dù anh cảm nhận được anh sẽ nhận ra nó nếu anh tìm thấy.

Tại sao các giấc mơ lại quá quan trọng trong phân tâm học, và nó có mối quan hệ gì với sự thay đổi tính dẻo thần kinh? Các bệnh nhân thường bị ám ảnh bởi những giấc mơ tái diễn về sang chấn tâm lý của họ và tỉnh dậy với nỗi kinh hoàng. Chừng nào họ vẫn còn ốm yếu (về tâm lý) thì những giấc mơ đó không thay đổi cấu trúc cơ bản của họ. Mạng lưới thần kinh đại diện cho sang chấn—chẳng hạn như giấc mơ của Anh L rằng anh ta đang bỏ quên một thứ gì đó — được kích hoạt lại liên tục.  Những bệnh nhân từng chịu sang chấn đó chỉ trở nên tốt hơn, những cơn ác mộng này dần ít đáng sợ hơn, cho đến khi cuối cùng bệnh nhân mơ thấy điều gì đó kiểu như Lúc đầu tôi nghĩ sang chấn đang tái phát, nhưng không phải vậy; bây giờ nó đã kết thúc rồi, tôi đã sống sót. Loạt giấc mơ theo tiến trình này cho thấy tâm trí và não bộ đang từ từ thay đổi, khi bệnh nhân biết rằng hiện tại anh ta đang an toàn. Để điều này xảy ra, các mạng lưới thần kinh phải gỡ bỏ được những mối liên kết nào đó - như Anh L đã gỡ bỏ mối liên kết giữa sự biệt ly và cái chết - và thay đổi các kết nối synap hiện có để mở đường cho những học hỏi mới. Có bằng chứng vật lý nào cho thấy các giấc mơ cho thấy bộ não của chúng ta đang trong quá trình thay đổi tính dẻo (thần kinh), thay đổi những ký ức có ý nghĩa về cảm xúc, đang bị che giấu cho đến nay, như trong trường hợp của Anh L? 

Các hình ảnh quét não mới nhất cho thấy rằng khi chúng ta mơ, phần não bộ xử lý cảm xúc, và các bản năng tình dục, sinh tồn và gây hấn của chúng ta hoạt động khá tích cực. Đồng thời hệ thống vỏ não trước trán, chịu trách nhiệm ức chế cảm xúc và bản năng, cho thấy hoạt động kém tích cực hơn.  Khi các bản năng được bật lên và những ức chế bị giảm xuống, bộ não đang mơ mộng có thể tiết lộ những thôi thúc, xung lực thường bị chặn khỏi nhận thức.

Kết quả của các nghiên cứu cho thấy rằng giấc ngủ giúp chúng ta củng cố việc học tập và trí nhớ và ảnh hưởng đến sự thay đổi tính dẻo thần kinh. Khi chúng ta học được một kỹ năng vào ban ngày, chúng ta sẽ giỏi hơn vào ngày hôm sau nếu chúng ta có một giấc ngủ ngon.

Một nhóm do Marcos Frank dẫn đầu cũng đã chỉ ra rằng giấc ngủ giúp tăng cường khả biến thần kinh trong giai đoạn quan trọng khi hầu hết sự thay đổi tính dẻo thần kinh diễn ra. Hãy nhớ lại chi tiết  Hubel và Wiesel đã chặn một mắt của một con mèo con trong giai đoạn quan trọng và cho thấy bản đồ não cho con mắt bị chặn đã bị chiếm bởi con mắt tốt— đây là trường hợp của việc sử dụng nó hay đánh mất nó. Nhóm của Frank đã làm thí nghiệm tương tự với hai nhóm mèo con, một nhóm bị thiếu ngủ và một nhóm khác thì ngủ đủ giấc. Họ phát hiện ra rằng mèo con càng được ngủ nhiều thì sự thay đổi tính dẻo thần kinh càng lớn trong bản đồ não bộ của chúng.

Trạng thái mơ cũng tạo điều kiện cho sự thay đổi tính dẻo thần kinh. Giấc ngủ được chia thành hai giai đoạn và hầu hết giấc mơ của chúng ta xảy ra ở một trong hai giai đoạn đó, được gọi là giấc ngủ REM (mắt chuyển động rất nhanh). Trẻ sơ sinh dành nhiều giờ trong giấc ngủ REM hơn người lớn và trong giai đoạn thơ ấu này, sự thay đổi tính dẻo thần kinh diễn ra ở tốc độ nhanh nhất. Trên thực tế, giấc ngủ REM là cần thiết cho sự phát triển tính dẻo của não bộ ở thời thơ ấu.

Một nhóm do Gerald Marks dẫn đầu đã thực hiện một nghiên cứu tương tự như Frank, xem xét tác động của giấc ngủ REM đối với mèo con và cấu trúc não của chúng. Marks nhận thấy ở những chú mèo con bị thiếu giấc ngủ REM, các tế bào thần kinh trong vỏ thị giác của chúng thực sự nhỏ hơn, vì vậy giấc ngủ REM dường như cần thiết cho các tế bào thần kinh phát triển bình thường. Giấc ngủ REM cũng được chứng minh là đặc biệt quan trọng để tăng cường khả năng lưu giữ ký ức cảm xúc của chúng ta và cho phép hồi hải mã biến những ký ức ngắn hạn của ngày hôm trước thành những ký ức dài hạn (nghĩa là nó giúp ký ức trở nên lâu dài hơn, dẫn đến thay đổi cấu trúc trong não). 

Mỗi ngày, trong trị liệu phân tâm, Anh L đã làm việc với những xung đột, ký ức và sang chấn cốt lõi của mình, và vào ban đêm, có bằng chứng về giấc mơ không chỉ của những cảm xúc bị chôn giấu của anh ấy mà còn bộ não của anh đang củng cố việc học và gỡ bỏ những điều mà anh từng học. 

Chúng ta hiểu được tại sao Anh L, lúc đầu làm trị liệu phân tâm, lại không có ký ức ý thức về bốn năm đầu đời: hầu hết những ký ức của anh ta về thời kỳ này là những ký ức tiến trình trong vô thứcnhững chuỗi tương tác cảm xúc tự động - và một vài ký ức rõ ràng mà anh có thì rất đau đớn, chúng bị kìm nén. Trong trị liệu, anh đã tiếp cận được đến ký ức tiến trình và ký ức rõ ràng của 4 năm đầu đời. Nhưng tại sao anh ta không thể hồi tưởng được những ký ức tuổi mới lớn của mình? Một khả năng là anh ta đã kìm nén một số ký ức thời thiếu niên; thông thường khi chúng ta kìm nén một điều gì đó, chẳng hạn như một sự mất mát bi kịch đầu đời, thì chúng ta cũng kìm nén những sự kiện khác hơi liên quan đến nó, để ngăn chặn ý thức tiếp cận được sự kiện gốc.

Nhưng cũng có một nguyên nhân khác. Gần đây người ta đã phát hiện ra sang chấn thời thơ ấu gây ra sự thay đổi lớn về tính dẻo thần kinh ở hồi hải mã, thu nhỏ nó, khiến cho những ký ức rõ ràng, dài hạn mới không thể hình thành được. Những động vật bị tách khỏi mẹ chúng phát ra tiếng kêu tuyệt vọng, rồi sau đó bước vào một trạng thái “tắt nguồn”— giống như những đứa trẻ sơ sinh của Spitz — và giải phóng một loại hormone gây căng thẳng có tên là "glucocorticoid." Glucocorticoids tiêu diệt các tế bào ở vùng hải mã để nó không thể tạo ra các kết nối synap trong các mạng thần kinh giúp cho việc học và trí nhớ dài hạn rõ ràng. Những căng thẳng đầu đời này khiến cho những con vật bị mất mẹ mắc phải các bệnh liên quan đến stress trong suốt quãng đời còn lại. Khi chúng trải qua quá trình ly biệt kéo dài, các gen bắt đầu sản xuất ra glucocorticoids được bật lên và duy trì trong thời gian dài. Sang chấn tâm lý ở trẻ sơ sinh dường như dẫn đến một sự siêu mẫn cảm - một sự biến đổi tính dẻo thần kinh - của các nơ-ron não bộ điều chỉnh glucocorticoids. Nghiên cứu gần đây ở người trưởng thành sống sót qua nạn bạo hành trẻ em cũng cho thấy những dấu hiệu của siêu mẫn cảm glucocorticoid kéo dài đến tận tuổi trưởng thành. 

Việc hồi hải mã co lại là một khám phá quan trọng về khả biến thần kinh và có thể giúp giải thích tại sao Anh L. có quá ít ký ức rõ ràng từ thời niên thiếu. Trầm cảm, căng thẳng cao và sang chấn thời thơ ấu đều giải phóng glucocorticoids và tiêu diệt các tế bào ở vùng hải mã, dẫn đến mất trí nhớ. Con người càng trầm cảm kéo dài thì hồi hải mã của họ càng teo nhỏ lại. Hồi hải mã của những người lớn bị trầm cảm từng bị sang chấn tâm lý thời thơ ấu trước tuổi dậy thì nhỏ hơn 18 phần trăm so với những người lớn bị trầm cảm nhưng chưa từng bị sang chấn tâm lý thời thơ ấu — một bất lợi của bộ não ni-lông: chúng ta thực sự bị mất đi ‘bất động sản’ vỏ não thiết yếu để đáp lại bệnh tật.

Nếu căng thẳng stress chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì sự suy giảm kích thước hồi hải mã chỉ là tạm thời. Nhưng nếu căng thẳng kéo dài quá lâu thì tổn hại sẽ là lâu dài. Khi người ta phục hồi khỏi chứng trầm cảm, những ký ức của họ quay lại, và nghiên cứu cho thấy hồi hải mã của họ có thể phát triển trở lại. Trên thực tế, hồi hải mã là một trong hai khu vực nơi các nơ-ron mới được tạo ra từ các tế bào gốc của chúng ta như là một phần của chức năng bình thường. Như Anh L từng bị tổn thương vùng hải mã, khi anh ấy phục hồi ở tuổi đôi mươi khi anh ta bắt đầu hình thành những ký ức rõ ràng trở lại.

Thuốc chống trầm cảm làm tăng số lượng tế bào gốc trở thành những tế bào thần kinh mới trong vùng hồi hải mã. Những con chuột được cho uống Prozac trong ba tuần đã tăng 70% số lượng tế bào trong vùng hải mã của chúng. Thông thường phải mất từ 3 đến 6 tuần để thuốc chống trầm cảm có hiệu lực ở người có lẽ là trùng hợp, cùng một khoảng thời gian để các tế bào thần kinh mới được sinh ra ở vùng hải mã trưởng thành, mở rộng (quy mô) của chúng và kết nối với các tế bào thần kinh khác. Vì vậy chúng ta có thể giúp người khác (mà không biết điều đó) thoát khỏi bệnh trầm cảm bằng cách sử dụng các loại thuốc giúp tăng cường tính dẻo của não bộ. Khi những người có tiến bộ trong trị liệu tâm lý cũng phát hiện thấy trí nhớ của họ cũng cải thiện, có thể nó cũng kích thích sự tăng trưởng tế bào thần kinh ở vùng hải mã của họ.

 

Đọc tiếp chương 9.3 ở đây

menu
menu