Bộ não tự thay đổi chính nó (chương 9.3)

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-9-3

Nhiều thay đổi của Anh L có thể gây bất ngờ cho Freud, khi biết độ tuổi mà Anh L tham gia trị liệu phân tâm. Freud sử dụng thuật ngữ "độ dẻo tinh thần" để mô tả khả năng thay đổi của con người và nhận ra khả năng thay đổi nói chung ở con người dường như khác nhau. Ông cũng nhận thấy "sự suy giảm của tính dẻo" có xu hướng xảy ra ở nhiều người lớn tuổi, khiến họ trở nên “cứng nhắc, đứng yên và không thể thay đổi." Ông quy kết điều này là do "sức mạnh của thói quen " và viết, "Tuy nhiên, có một số người vẫn giữ được độ dẻo dai về tinh thần vượt xa giới hạn tuổi tác thông thường, và những người khác thì đánh mất nó từ rất sớm." Những người như vậy, theo quan sát của ông, gặp khó khăn lớn hơn để thoát khỏi các chứng rối loạn tâm thần của họ trong trị liệu phân tâm. Họ có thể kích hoạt sự chuyển dịch nhưng lại khó mà thay đổi chúng. Anh L. chắc chắn là có một cấu trúc tính cách cố định suốt hơn 50 năm. Vậy làm thế nào mà anh ta lại có khả năng thay đổi? 

Câu trả lời là một phần của câu đố lớn hơn mà tôi gọi là "nghịch lý của tính dẻo thần kinh" và tôi coi đó là một trong những bài học quan trọng nhất của cuốn sách này. Nghịch lý của tính dẻo thần kinh là các tính chất khả biến thần kinh tương tự cho phép chúng ta thay đổi bộ não và tạo ra nhiều hành vi linh hoạt hơn cũng có thể cho phép chúng ta tạo ra các đặc tính, hành vi cứng nhắc hơn. Tất cả mọi người đều bắt đầu với tiềm năng tính dẻo thần kinh. Một số người trong chúng ta phát triển thành những đứa trẻ ngày càng linh hoạt và sống theo cách đó trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình. Còn những người khác, tính tự phát, sáng tạo và không thể đoán trước của thời thơ ấu nhường chỗ cho sự tồn tại của những hành vi quen thuộc lặp đi lặp lại và biến chúng ta thành những bức tranh biếm họa cứng nhắc về bản thân. Bất cứ điều gì bao gồm sự lặp đi lặp lại không có sự thay đổi - sự nghiệp của chúng ta, những kỹ năng, những hoạt động văn hóa và các chứng rối loạn tâm thần - có thể dẫn đến sự cứng nhắc. Thật vậy, đó là bởi vì chúng ta có một bộ não khả biến thần kinh mà chúng ta có thể phát triển những hành vi cứng nhắc đó ngay từ đầu. Như phép ẩn dụ của Pascual-Leone minh họa, khả biến thần kinh cũng giống như những đám tuyết mềm mại trên một quả đồi. Khi chúng ta trượt xuống đồi trên một chiếc xe trượt tuyết, chúng ta có thể linh hoạt bởi vì chúng ta có tùy chọn mỗi lần đi những con đường khác nhau qua tuyết mềm. Nhưng khi chúng ta chọn đi cùng một con đường lần thứ hai hoặc thứ ba, thì con đường mòn sẽ bắt đầu hình thành, phát triển, và chẳng mấy chốc chúng ta sẽ có xu hướng bị mắc kẹt trong một lối mòn — con đường của chúng ta lúc này sẽ trở nên khá cứng nhắc, vì các mạch thần kinh, một khi được thiết lập, có xu hướng trở nên tự duy trì

Bởi vì tính dẻo thần kinh của chúng ta có thể mang lại cả sự linh hoạt lẫn sự cứng nhắc về tinh thần, cho nên chúng ta có xu hướng đánh giá thấp tiềm năng trở nên linh hoạt của mình, điều mà phần lớn chúng ta chỉ trải nghiệm một cách chớp nhoáng.

Freud đã đúng khi nói rằng sự vắng mặt của tính dẻo thần kinh dường như có liên quan đến sức mạnh của thói quen. Các chứng rối loạn tâm thần có xu hướng được hằn sâu bởi sức mạnh của thói quen vì chúng bao gồm những kiểu mẫu lặp đi lặp lại mà chúng ta không ý thức được, khiến cho ta gần như không thể ngắt được và chuyển hướng chúng nếu như không có các kĩ thuật can thiệp đặc biệt. Khi Anh L có thể hiểu được nguyên nhân của những thói quen phòng vệ của mình, và quan điểm của anh ta về bản thân và thế giới, thì anh ta có thể tận dụng được tính dẻo thần kinh bẩm sinh của mình, bất chấp tuổi tác. 

Khi Anh L bắt đầu làm trị liệu phân tâm, anh coi mẹ mình như một bóng ma mà anh không thể nhìn thấy; hiện hữu cả còn sống lẫn lúc chết; một người mà anh trung thành nhưng lại không biết chắc có tồn tại không. Khi chấp nhận rằng bà ấy thực sự đã chết rồi, anh đã mất đi cái cảm giác về bà như một bóng ma và thay vào đó có được cảm giác mà anh thực sự từng có về một người mẹ có thật, bà là một người tốt, cũng yêu thương anh chừng nào bà vẫn còn sống. Chỉ khi nào bóng ma của anh ấy chuyển thành một tổ tiên yêu thương thì anh mới có được tự do hình thành một mối quan hệ thân mật hơn với một người phụ nữ còn sống. 

Phân tâm học thường liên quan đến việc biến những bóng ma của chúng ta thành tổ tiên, ngay cả đối với những bệnh nhân không bị cái chết cướp đi người thân yêu của họ. Chúng ta thường bị ám ảnh bởi các mối quan hệ quan trọng từ quá khứ ảnh hưởng đến ta (vô thức) trong hiện tại. Khi chúng ta làm việc với chúng, chúng chuyển từ nỗi ám ảnh chúng ta sang một phần quá khứ của ta. Chúng ta có thể biến những bóng ma của mình thành tổ tiên vì chúng ta có thể chuyển hóa những ký ức ẩn tàng — thứ mà ta thường không nhận thức được sự tồn tại của nó cho đến khi chúng bị gợi lên và bỗng nhiên ở đâu tìm đến với ta—thành những ký ức rõ ràng mà bây giờ ta đã có được một bối cảnh rõ ràng, khiến ta dễ dàng hồi tưởng lại chúng và trải nghiệm như một phần của quá khứ. 

Ngày nay, HM, trường hợp nổi tiếng nhất trong tâm lý học thần kinh, vẫn còn sống, đang ở độ tuổi 70, nhưng tâm trí ông thì đã bị khóa ở những năm 1940, vào thời điểm trước khi ông được phẫu thuật và bị mất cả hai hồi hải mã, cảnh cổng mà qua đó các ký ức phải đi qua nếu chúng muốn được lưu giữ và đạt được sự thay đổi về tính dẻo thần kinh dài hạn. Không thể chuyển đổi những ký ức ngắn hạn thành dài hạn, cấu trúc của bộ não và trí nhớ của ông, cùng với hình ảnh bản thân ông về tinh thần và cơ thể, bị đóng băng ở nơi mà khi ông được phẫu thuật. Đáng buồn thay, ông thậm chí còn chẳng nhận ra được bản thân mình trong gương. Eric Kandel, người được sinh ra ở cùng thời điểm, tiếp tục thăm dò vùng hồi hải mã và tính dẻo thần kinh của trí nhớ, xuống đến những thay đổi trong các phân tử dạng đơn lập. Ông đã tiếp tục xử lý những ký ức đau đớn của mình của những năm 1930 bằng cách viết một cuốn hồi ký sâu sắc, đầy thông tin, In Search of Memory. Còn Anh L. — hiện giờ đang ở độ tuổi 70 — không còn bị khóa chặt về cảm xúc trong những năm 1930 vì anh ta có thể mang những sự kiện đã xảy ra cách đây 60 năm lên bề mặt ý thức, viết lại chúng, và trong quá trình làm mới bộ não ni-lông của anh.

 

(hết chương 9)

menu
menu